Đơn giản và thuần khiết

Cư sĩ Upasika Kee Nanayon (1901-1978), còn được biết đến qua bút danh Khao Suan Luang, là một trong những nữ giảng sư nổi tiếng của Thái Lan ở thế kỷ XX. Bà cũng là tác giả của nhiều tập thơ nổi tiếng.

Năm 1945, bà thành lập một trung tâm thiền nhỏ tại một vùng núi thuộc ngoại ô Bangkok. Phật tử từ khắp nơi trên đất nước Thái Lan tụ về đó để nghe bà giảng pháp, cho đến khi bà mất năm 1978.

vuon vai.jpg

Thuần khiết - Ảnh minh họa

Vào tháng 6-1973, Cộng đồng Khao Suan Luang làm lễ thượng thọ cho Upasika Kee khi bà được 72 tuổi - một bước quan trọng trong một nền văn hóa mà mỗi thế hệ là 12 năm - bằng cách cho in cuốn sách tập hợp những lời trích ra từ các bài pháp của Upasika Kee. Dưới đây là bản trích dịch từ tuyển tập đó.

Muốn tu tập, trước hết bạn phải là người yêu chân lý - và bạn cần phải biết chịu đựng, kiên nhẫn để làm những gì bạn Muốn tu tập, trước hết bạn phải là người yêu chân lý - và bạn cần phải biết chịu đựng, kiên nhẫn để làm những gì bạn cho những uế nhiễm và tâm tham ái của bạn giống như trước đó.

Khi không thực tập quán chiếu, là bạn đã tự tạo cho bản thân bao khổ đau, đã tạo cho tha nhân bao khổ đau. Đây là những điều mà chúng ta cần phải quán chiếu càng nhiều càng tốt. Nếu không, chúng ta cứ muốn có thêm, có thêm nữa. Chúng ta không cố gắng buông bỏ, không cố gắng gạt bỏ mọi chuyện qua một bên, không muốn hy sinh bất cứ thứ gì. Chúng ta sẽ cứ tiếp tục gom góp thêm, vì càng có nhiều, ta càng muốn nhiều hơn nữa.

Nếu bạn tham lam, bủn xỉn, thì dầu bạn có bao nhiêu tiền của, Đức Phật vẫn coi bạn là người nghèo: nghèo các tài sản cao thượng, nghèo các tài sản tâm linh. Dầu bạn có nhiều của cải vật chất bên ngoài, khi bạn mất đi, tất cả đều sang qua tay người khác, tất cả trở thành tài sản chung, chỉ có bản thân bạn bị bỏ rơi trong sự nghèo nàn đức hạnh, nghèo giáo pháp.

Tâm không có mái nhà - tâm không có pháp làm nơi nương tựa - phải chung sống với các uế nhiễm. Khi một uế nhiễm phát khởi, tâm liền chạy theo nó. Khi uế nhiễm đó biến mất, thì một uế nhiễm khác lại khởi lên và tâm lại chạy theo uế nhiễm này. Vì tâm không có nơi nương tựa của riêng mình, nó phải chạy lăng xăng khắp chốn.

Tu tập để chấm dứt các uế nhiễm và khổ đau là một hình thức tu tập cao cấp. Vì thế trước hết, bạn cần phải dọn dẹp, chuẩn bị một cái nền, sắp xếp cho nó thứ tự. Chớ nghĩ rằng bạn có thể tu tập mà không cần bất kỳ sự chuẩn bị nào. Nếu bạn sống vì dục lạc, thì bạn chỉ luôn nghĩ đến việc làm thế nào để có thể thỏa mãn các ham muốn của mình. Nếu bạn không phát triển tâm biết đủ, hay biết hổ thẹn từ lúc ban đầu, thì càng về sau, bạn sẽ càng khó tu tập lên cao.

Quán chiếu là một phần thực hành quan trọng. Nếu bạn không thực hành quán chiếu thì trí tuệ không thể phát sinh. Đức Phật dạy chúng ta phải quán chiếu và thử nghiệm sự vật đến mức độ mà chúng ta có thể tự mình thấy rõ ràng như thế. Chỉ đến khi đó chúng ta mới có sự nương trú đích thực. Đức Phật chẳng bao giờ dạy ta nương trú vào những thứ mà bản thân ta không thể nhìn thấy hay thực hành.

Nếu bạn thực sự muốn thoát khỏi khổ đau, thì bạn phải thực sự thực hành, phải có nỗ lực chân chánh. Bạn phải tập buông bỏ, bắt đầu với những thứ ở bên ngoài và dần đi vào bên trong. Bạn phải tự giải thoát mình khỏi những ảo tưởng do các dục lạc quyến rũ tạo ra.

Điều quan trọng trong việc buông xả là bạn phải thấy được mặt tiêu cực của những gì bạn buông xả. Chỉ khi đó bạn mới có thể thực sự buông xả một lần và mãi mãi. Nếu bạn không thấy được sự tiêu cực, thì bạn vẫn bám víu và tiếc nuối, dù là đã buông xả.

Nếu bạn muốn buông xả điều gì đó, bạn phải thấy được mặt tiêu cực của nó. Nếu bạn chỉ tự nhủ mình: "Hãy buông xả, hãy buông xả", thì tâm bạn sẽ không dễ dàng nghe theo. Bạn phải thực sự nhìn thấy mối hiểm họa trong cái mà bạn đang bám víu vào, sau đó thì tâm sẽ tự buông xả vào lúc thích hợp. Cũng như khi chạm vào lửa, khi cảm thấy nóng, thì bạn tự động rút tay ra và chẳng bao giờ chạm vào nó nữa.

Rất khó nhận ra được những mặt tiêu cực của sự đam mê dục lạc, và càng khó hơn đối với những thứ vi tế hơn, như là cảm giác về ngã.

Lúc mới bắt đầu tu tập, bạn phải rèn luyện cách nào để kiềm chế lời nói và hành động của mình - tiêu chuẩn của đức hạnh - để bạn có thể giữ cho lời nói và hành động của mình ở mức độ bình thường, điềm tĩnh và có kiểm soát. Nhờ đó, tâm sẽ không chạy theo uy lực của các uế nhiễm thô tháo. Khi sân giận, hung bạo sắp phát khởi, thì trước hết phải dừng chúng lại bằng sức mạnh của kham nhẫn. Sau khi bạn đã có thể tập kham nhẫn một thời gian, thì nội tâm của bạn sẽ đạt được sức mạnh mà nó cần để phát triển sự cảm nhận về đúng, sai, và qua đó bạn sẽ nhìn ra được giá trị của sự kham nhẫn. Đó thực sự là một điều tuyệt vời!

hinh (15).jpg

Khi bạn hành thiện, hãy để cái thiện đó hòa đồng với thiên nhiên. Đừng bám vào ý nghĩ rằng bạn tốt. Nếu bạn bám víu vào ý nghĩ rằng bạn là người tốt, nó sẽ khiến rất nhiều thứ chấp khác phát khởi.

Khi tâm không tự ái hay ngã mạn bị khiển trách, nó sẽ co mình lại giống như một con bò bị đánh bằng gậy. Cảm giác về ngã sẽ biến mất ngay trước mắt bạn. Một con bò được huấn luyện tốt, dầu thấy bóng của cây roi vẫn đứng yên và tự tại, sẵn sàng hoàn thành những gì nó đã được chỉ dạy. Một thiền sinh nếu có thể giảm thiểu ngã mạn và tự ái thì chắc chắn là người đó sẽ tiến bộ và sẽ không có gì đủ sức mạnh để trì kéo tâm người đó xuống. Tâm sẽ được yên tĩnh và trống không - thoát khỏi bất cứ mọi sự bám víu vào "tôi" hay "cái của tôi". Đó là cách tâm phát triển để trở nên trống không.

Nếu bạn là loại người cởi mở, chân thật, bạn sẽ thấy cánh cửa để loại bỏ khổ đau và uế nhiễm ngay khi bạn đang chân thật với bản thân, ngay khi bạn tỉnh giác. Bạn không cần phải đi giải thích pháp cao siêu với bất cứ ai. Tất cả những gì bạn cần là sự chân thật ở một mức độ bình thường với bản thân về khổ đau và những lỗi lầm trong hành động của bạn, để bạn có thể dừng chúng lại, để bạn có thể phát triển sự cảm nhận về lòng hối hận, cảm giác hổ thẹn. Điều đó còn tốt hơn là nói về những pháp cao siêu, nhưng rồi thì cứ tỏ ra bất cần, dễ dãi và không biết hổ thẹn.

Khi thực sự quán chiếu, bạn sẽ nhận ra tất cả sự phóng dật của mình. Dầu bạn có hiểu biết về giáo lý của Đức Phật và có thể giảng giải chúng đúng đi nữa, thì tâm trí bạn vẫn phóng dật. Thực ra, những người biết nhiều về pháp và thường khoe khoang về sự hiểu biết của họ, có thể còn phóng dật, vô tâm hơn những người chỉ biết chút ít Phật pháp. Những người chưa từng đọc sách Phật thường có khuynh hướng chú tâm hơn vì họ khiêm cung hơn và biết rằng họ cần phải đọc chính tâm của mình. Trong khi những người đã đọc nhiều sách hay đã nghe nhiều bài pháp thường tỏ ra dễ dãi. Do đó họ trở nên lơ là, và bất kính đối với Phật pháp.

Chúng ta cần phải biết làm thế nào để sử dụng tâm chánh niệm tỉnh giác của mình, để luôn nhìn vào nội tâm, vì không có ai khác có thể biết hay nhìn thấy được những điều này thay cho chúng ta. Chúng ta phải tự mình biết lấy.

Khi một vật thể yếu ớt và lỏng lẻo, thì nó chảy. Khi cứng chắc, thì nó không chảy. Khi tâm yếu đuối, thiếu sức mạnh, thì nó luôn sẵn sàng để chảy đi như nước. Nhưng khi tâm đầy chánh niệm và sáng suốt, khi nó vững chãi và chân chánh trong nỗ lực của mình, nó có thể chống cự dòng chảy của uế nhiễm.

Khi bạn mới bắt đầu hành thiền, thì cũng giống như bạn đang bắt một con khỉ để xích lại một chỗ. Lúc đầu khi mới bị cột lại, nó sẽ vùng vẫy với tất cả sức lực để chạy thoát. Tương tự, khi tâm mới bắt đầu bị cột vào đối tượng thiền quán, thì nó không thích điều đó. Nó sẽ vùng vẫy nhiều hơn bình thường, khiến ta cảm thấy mỏi mệt và chán nản. Vì thế ở giai đoạn bắt đầu, chúng ta chỉ cần sử dụng sự kham nhẫn của mình để chống lại khuynh hướng muốn bỏ ngang để chạy theo những đối tượng khác của tâm. Với thời gian, tâm sẽ dần dần được kiềm chế.

Bạn muốn tâm yên tĩnh nhưng nó không yên. Vậy thì bạn phải làm gì, bạn phải chú tâm vào điều gì, biết điều gì, để nhìn thấy sự phát khởi và hoại diệt của các pháp? Hãy cố gắng quán sát kỹ càng, chắc chắn rồi chính bạn sẽ hiểu, vì ở đây không có điều gì là bí mật hay bị che giấu cả. Nó là một cái gì đó mà chính bạn sẽ nhìn thấy những nguyên tắc căn bản của nó.

Chúng ta có thể làm gì để cho tâm không phóng dật theo các định kiến hay vọng tưởng của nó? Chúng ta phải đặt sự chú tâm vào một đối tượng nào đó, vì nếu tâm không trụ vào một đối tượng nào đó, thì nó sẽ lang thang để tìm biết những thứ khác, những vấn đề khác. Đó là lý do tại sao chúng ta thực hành đặt sự chú tâm vào thân, hay vào hơi thở, đem hơi thở làm cái trụ để cột con khỉ tâm của mình vào đó. Nói cách khác, chúng ta dùng chánh niệm để giữ tâm trụ vào hơi thở. Đó là bước đầu tiên trong pháp hành.

Rèn luyện để tâm trụ vào hơi thở là điều chúng ta phải liên tục thực hiện với mỗi hơi thở vào - ra, trong mọi tư thế - ngồi, đứng, đi hay nằm. Bất cứ bạn đang làm gì, hãy chú tâm vào hơi thở. Nếu muốn, có thể bạn không cần chú tâm vào bất cứ thứ gì khác ngoài sự cảm nhận về hơi thở, không cần phải xác định là nó dài hay ngắn. Chỉ cần thở bình thường. Đừng gò ép hơi thở, đừng giữ hơi thở hay ngồi với thân quá căng. Ngồi thẳng và hướng về phía trước một cách thoải mái. Nếu bạn sắp quay sang trái, hãy chắc chắn rằng bạn vẫn chú tâm vào hơi thở khi bạn quay. Nếu bạn quay qua phải, cũng chú tâm vào hơi thở khi bạn quay người.

Bạn muốn giữ tư thế nào là tùy bạn, nhưng phải luôn chú tâm vào hơi thở. Nếu sự chú tâm bị gián đoạn, hãy đem nó trở về với hơi thở. Bất cứ bạn đang làm gì trong lúc này, hãy quán sát hơi thở với mỗi hơi thở vào - ra thì bạn sẽ phát triển chánh niệm và tỉnh giác - tự nhận thức về thân - đồng thời bạn cũng ý thức đến hơi thở.

Khi đi, bạn không cần phải chú ý đến những bước chân. Hãy chú tâm vào hơi thở và để bàn chân tự bước tới. Hãy để mỗi bộ phận của thân thể vận hành theo nhịp độ riêng của nó. Bạn chỉ cần chú tâm vào hơi thở mà vẫn ý thức được toàn thân.

Dầu mắt đang nhìn cảnh vật hay tai đang lắng nghe âm thanh, hãy vẫn chú tâm vào hơi thở. Khi bạn nhìn một quang cảnh, hãy chắc chắn rằng cái biết về hơi thở nằm dưới cái nhìn đó. Khi bạn lắng nghe một âm thanh, hãy chắc chắn rằng cái biết về hơi thở tiềm tàng trong cái nghe. Hơi thở là phương tiện để làm cho tâm tĩnh lặng, vì thế trước hết bạn phải luyện tập hơi thở. Không cần phải vội vã mong được những kết quả tốt hơn. Hãy luyện tâm để nó ở trong vòng kiềm chế của chánh niệm liên tục, suốt ngày đêm - đến điểm mà tâm không còn để sự chú ý của nó bị gián đoạn. Càng lúc nó càng trụ lâu hơn trên hơi thở, chú tâm vào cái biết hơi thở liên tục và rồi mọi thứ khác sẽ tự động dừng lại: suy tư dừng lại, nói năng dừng lại. Bất cứ công việc gì bạn phải làm, bạn vẫn làm, đồng thời bạn vẫn để tâm vào hơi thở trong từng giây phút. Nếu có bất cứ sự gián đoạn nào, bạn sẽ lại trở về với cái biết hơi thở một lần nữa. Bạn không cần phải suy nghĩ về bất cứ điều gì khác. Hãy ý thức đến hơi thở khi bạn ý thức tâm bình thường.

Khi tâm có thể duy trì nhịp độ của nó một cách bình thường, bạn có thể quán sát hơi thở và nhận ra rằng nó cũng bình thường. Khi mức độ bình thường của chúng cân bằng, bạn chú tâm vào cái biết rằng hơi thở đơn giản chỉ là một hiện tượng tự nhiên - thuộc yếu tố gió. Thân là tổng hợp của bốn yếu tố: đất, nước, gió, và lửa. Ở đây chúng ta chú tâm vào yếu tố gió. Yếu tố gió là một hiện tượng tự nhiên không phải là "ta" hay "của ta". Lúc đó tâm bình thường, không suy tư hay vọng tưởng bất cứ điều gì, không khuấy động sự việc lên. Khi ấy nó cũng là một hiện tượng tự nhiên, đơn giản và thuần khiết. Nếu tâm không dính mắc vào bất cứ điều gì khác, nếu nó không bị thiêu đốt bởi các uế nhiễm, thì nó có thể duy trì sự tĩnh lặng, bình ổn.

Khi bạn duy trì được sự chú tâm vào hơi thở trong mọi tư thế, đó là một phương tiện để ngăn cản tâm không chạy theo tư tưởng và đặt tên chúng. Bạn phải cố gắng luyện tâm trụ vào hơi thở trong mọi tư thế, đó là cách giúp bạn hiểu tâm giống như thế nào khi nó có được hơi thở chánh niệm như là nơi nương trú của nó.

Trụ vào hơi thở giúp tâm trở nên bình lặng hơn bất cứ phương pháp nào khác - mà nó cũng không đòi hỏi sức lực. Chúng ta chỉ cần thở một cách bình thường. Nếu� nơi � ực. ươustify">nrn u0�d��n0align5tcnng k��c h�i.0� trong Pul�n t�áchuu0�d��n0align5tci.B���P�a chỉ ;il�so hơ<��c. �vt�ádPiiệ>xạn ph��i.>uênhuu0�d��n0alin0al"irb�h<��cl�so hơ<��c. �vt�C< ;il�so hơ<�đòhơn bất ph��i.>uênh/: hơn b hỏi s0�d��n0a48>xCy">nrn u00al"irb�h<�48>xCy">g��i.>us�c��n0alignA�au0al"irb�h<�48>xCy">g��i.>us�c�o khác - mi0�dhá tên /x�48�oy">nrn u00al"húng ta ch�irkei70et8>xCxạn ph�h<�48>xCy">t8>xCx�g�c��n0s�c�/: hơn Ađòh�Rron0asu0al"trtc��n0s�c�/:t8C4cl�so hơf0al"irb�h/_0s�c�/:t8dinditc�o�vt8>xCy">t8>x�c�h�h<�48>o hơfrtditc�o�vt8>t8>xC>uênh/: �N45uangivt8>thiơn se2��c. >o xrn ungCxạnaC9<9xCCy">g��i.��9>xCy">t8>x�c�h1C�i.>us�c�ᡭ�P�a chỉ ;isrAx>8>t8>xC>uênh/<�48>o 4�3�P�a chỉ ;isrAx>8>t8>xC1�9r êngn0alin0amtrn�a ch�irtx�c">9c��n0s�c�"���P�a chỉ ;�8>xC>uênh/: �N45uangivt8>thiơn se2��c. >o xrn ungCxạnaC9<9xCCy">gAiiAx>8>t8>xC>uêrlU8>xC >n0s�c�"���P�a �9xCy">nri�n0�d �NrAxc8>x. >o xrn ungCxạnaC9<9xCCy">g��i.��9>xCy">t8>x�c�h1C�i.>us�8>t8>avt8>t - mh��gn0s�h">g��aet4�4;isrAx>8>"�x>8>t8>xC>o xrn ungC�N9��naC9<9xCCy">�Tavt8>t - mh�ila-n ungC�N9��naC9<9xCCy">�Trn Ađòi-9�hỉ ;�8>�>xC>uênhfCxạnaC9<8>t - mh�ia<9xCt�42��c. >o xrn cN_C9�Trn Ađòi-9�fCxx>"�xndxi.>us�8>trnt8>t8>trnđòi-9�fCx�0C��ia<9xCt�42��c�42Aii-n ungC�N9��na9>xCy">t8>x�2��c. >o xrn tx�c">9c��n0�auj�N45uangivt8>thiơn se2��"